fbpx
Trang chủ / Các thánh / MANIFICAT – Bài ca của mọi thời đại
MANIFICAT - Bài ca của mọi thời đại

MANIFICAT – Bài ca của mọi thời đại

(Lc 1: 46b-55)

Bản văn[2]

46b  “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
47        thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
48        Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
49        Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn !
50        Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
51        Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
52        Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
53        Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
54        Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
55        như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
và cho con cháu đến muôn đời.”

  1. Bài hát của mọi thời đại

Trong tông huấn Marialis Cultus, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI viết: “Magnificat là lời cầu nguyện tuyệt vời của Mẹ Maria, bài ca ngợi khen của những thời khắc cứu tinh (messianic) nơi hòa chung niềm vui của Israel cựu và tân. Nơi bài ca này lại vang lên một lần nữa niềm hân hoan của Abraham là người đã được thấy ngày của Đấng Cứu Tinh (Gioan 8:56) và vang lên một cách tiên tri tiếng nói của Hội Thánh. Bài ca của Đức Trinh Nữ đã trở thành lời cầu nguyện của Hội Thánh trong mọi thời đại.” (số 18) Maria hiện thân như sự hoàn tất của Israel. Magnificat vừa là một bài ca cá nhân vừa là bài ca Hội Thánh. Magnificat được xem là một bản văn nền tảng, cầu nối giữa Cựu và Tân Ước, giữa Israel và Hội Thánh.

Ngay từ đầu, cộng đoàn Kitô hữu đã công nhận tầm quan trọng của bài ca này. Thật sự đây là một bài ca Hội Thánh được đặt lên môi miệng Mẹ Maria và qua đó cộng đoàn, hợp tiếng của mình với tiếng của Mẹ Đức Giêsu, không ngừng lặp lại trong dòng thời gian.

Trong truyền thống Đông Phương Bizantine, từ cổ xưa, Magnigicat là một phần kinh sáng được cử hành trọng thể mỗi ngày. Để đánh dấu sự trọng thể, cộng đoàn đứng đọc hoặc hát, có xông hương trước khi đọc Thánh Vịnh cho kinh sáng. Các giáo hội Armena và Maronia cũng thêm Magnificat vào kinh sáng.

Nơi giáo hội La-tinh, từ thế kỷ V hoặc VI, Magnificat được hát mỗi ngày trong phần cuối kinh chiều. Bản luật của thánh Biển Đức, viết tại tu viện Montecassino (nước Ý) khoảng năm 530, cung cấp chứng từ cổ xưa nhất cho việc thực hành này.

Ngay từ những ngày đầu tiên của Kitô giáo cho đến hôm nay, có nhiều quan tâm đến Magnificat, ngay cả ngoài khung cảnh phụng vụ. Cách riêng là âm nhạc, Magnificat được phổ nhạc dưới nhiều thể loại, trở thành thịnh hành, làm tăng thêm lòng sùng mộ nơi dân Chúa.

Nếu trong chiều dài lịch sử Magnificat là bài ca được chú trọng nhiều trong các lãnh vực phụng vụ, âm nhạc, tâm linh thì cuối thế kỷ trước Magnificat đã trở thành đối tượng nghiên cứu phê bình-chú giải không những của thần học mà còn của khoa xã hội – chính trị học nữa. Bên cạnh đó, lòng sùng kính bình dân tiếp cận với Magnificat với một sự nhảy cảm mới và trưởng thành ngang qua những biến đổi sâu xa trong thời đại chúng ta.

Bài ca của Đức Trinh Nữ bây giờ là tổng hợp và cụ thể hóa những thánh thi cổ về cuộc giải phóng của dân Thiên Chúa, đã đi theo họ trong các giai đoạn quan trọng nhất của lịch sử cứu độ.

Các nhân vật nữ như Mariam, Debora, Giuditta… là những cộng tác viên của Thiên Chúa trong các biến cố quyết định về tương lai của dân Cựu Ước. Một tương lai được chờ đợi và hi vọng mãnh liệt sẽ có một người nữ khác – Maria Nazareth – hát lên cùng với cộng đoàn tín hữu về ơn cứu độ chắc chắn. Maria đã không làm thất vọng sự mong đợi này và đã cống hiến một khuôn mẫu môn đệ của Đức Giêsu cho thời đại chúng ta.

MANIFICAT - Bài ca của mọi thời đại

  1.  Bài ca độc nhất

 Có nhiều bài thánh thi trong các tác phẩm Tin Mừng của Luca, chẳng hạn Benedictus và Nunc Dimitis là những bản văn có ý nghĩa thần học quan trọng. Nhưng không có bài thánh thi nào phổ biến và hấp dẫn như Magnificat. Magnificat đã trở thành bản quy điển từ những thế kỉ đầu. Điều quan trọng trong Magnificat là việc trình bày Maria như tớ nữ và người nghèo của Đức Chúa. Đặc điểm này giúp dân chúng dễ tìm thấy sự đồng cảm và gắn bó với Maria. Chiều kích ngôn sứ của Maria thể hiện ở việc Maria giống như phát ngôn viên cho cộng đoàn về niềm tin, sự vâng phục đối với Lời Chúa. Maria là mẹ Con Thiên Chúa và cũng là hình ảnh đặc biệt  cho tín hữu trong ơn gọi môn đệ Thầy Giêsu. Mẹ là một người đã tin. Cộng đoàn tín hữu vừa ca tụng Thiên Chúa nơi Mẹ qua đặc ân thánh mẫu của Mẹ vừa ngưỡng mộ noi gương niềm tin vững chắc thánh thiện của Mẹ.

So sánh với các nhân vật khác trong Luca như Zachariah, Elizabeth, Simeon và Anna, Maria xuất hiện trong một ánh sáng khá đa dạng. Chẳng hạn, cộng đoàn tín hữu mới không đồng hóa mình với Zachariah vì ông kém tin. Elizabeth thì khá hơn nhưng cũng là người đang chờ đợi điều kì diệu nơi Đức Trinh Nữ và màu nhiệm đang hoạt động trong Mẹ. Các nhân vật này làm thành một phần dân của lời hứa mà họ được đặc ân đại diện, nhưng họ không thuộc cộng đoàn của Giao Ước mới sẽ trở thành hiện thực trong liên hệ với Đức Kitô và màu nhiệm Vượt Qua của Người.

Tóm lại, Maria chiếm hữu một vị thế độc nhất vô nhị giữa các nhân vật Tân Ước, cách riêng nơi Luca 1-2, và Magnificat – được quy gán một cách hữu ý cho Maria – trở thành một đặc ân rõ ràng giữa các thánh thi Luca.

MANIFICAT - Bài ca của mọi thời đại

  1. Bài ca của nhiều âm vang

 Trước hết, cần phải đọc Magnificat trong ngữ cảnh của nó: trong chuyến viếng thăm Elizabeth, nghĩa là giữa hai biến cố Truyền Tin và Giáng Sinh. Có một dòng chảy liên tục trong văn mạch: chuyến viếng thăm tiếp nối biến cố Truyền Tin và báo tin chuẩn bị cho biến cố Con Thiên Chúa giáng trần. Trong ngữ cảnh này, từ góc nhìn con người, Maria là nhân vật chính. Mẹ chính là đối tượng (vị ngữ) trực tiếp của lời chúc phúc được Elizabeth thốt lên và là chủ thể (chủ ngữ) hát bài ca Magnificat theo sau lời của Elizabeth. Maria là tớ nữ mà Đức Chúa cứu độ đã đoái thương chúc lành, giải thoát khỏi phận hèn. Phận hèn ở đây mang nhiều ý nghĩa tâm linh, chỉ tình trạng con người nhỏ bé trước Đấng Tạo Hóa quyền năng. Phận hèn còn chỉ điều kiện nghèo khó giống như tình cảnh của Abraham bên Ai Cập cũng như chỉ sự chờ đợi của những kẻ bé mọn nhất (anawim) trước ngưỡng cửa của thời đại Tân Ước.

Ngôn từ, chủ đề, cấu trúc của Magnificat đặt bài ca này vượt xa hơn bối cảnh hiện tại để đi vào trong nền lịch sử của cuộc Xuất Hành, cuộc Vượt Qua của Đức Kitô và cuộc giải thoát cánh chung. Magnificat nối kết lịch sử nhưng không dừng lại ở chính nó mà mở ra, chờ đợi ơn cứu độ trọn vẹn, triệt để nơi Thiên Chúa sẽ được thể hiện nơi Đức Kitô. Magnificat mô phỏng bài ca Biển Đỏ (Xh 15: 1-18). Thiên Chúa đoái thương phận hèn tôi tớ là Maria và Israel, không chỉ cho dân xưa mà cả những ai đang mong chờ ơn cứu độ dứt khoát (definite).

Dù mang những thuật ngữ liên hệ đến lịch sử xưa, tinh thần của Magnificat lại mới mẻ: với việc Đức Kitô đến, thời đại mới lên ngôi. Magnificat hát vang sự giải phóng đã đến và tuyệt đối không thể trở ngược lại được dù các hiệu năng của nó chưa thể hiện hết nơi trần thế. Kết quả là tiếng nói của Maria, dù mô phỏng bài ca Do Thái xưa, tiên báo và khai mở bài ca Hội Thánh của Đức Kitô về ơn cứu độ đã biến đổi tận căn lịch sử thế giới.

Magnificat là bài ca của Đức Trinh Nữ Maria được đặt giữa biến cố Truyền Tin và Giáng Sinh của Đấng Cứu Thế. Magnificat cũng là bài ca của Israel cuối cùng được Đấng Cứu Thế viếng thăm như Zachariah, Elisabeth, Simeon và Anna đã công nhận. Magnificat còn là bài ca của Hội Thánh biểu hiện niềm vui của mình trước hết nơi Mẹ Đức Chúa và rồi nơi mọi dân nước.[3]

Nơi Maria, dân cũ và mới của Thiên Chúa tìm thấy điểm gặp nhau: Israel cùng dân ngoại làm nên Hội Thánh. Magnificat vì thế là bài ca vừa cá nhân vừa cộng đoàn: của nữ tì Thiên Chúa và của dân Người. Về cấu trúc, có sự chuyển động từ dạng số ít (câu 46 – 50) đến dạng số nhiều (câu 51-55). Sự khác nhau giữa hai phần này không chỉ nằm trong việc chuyển động ấy mà còn thể hiện ở chi tiết sau đây: phần một (câu 46-50) diễn tả một tương quan được thiết lập trên song đối là Thiên Chúa – tớ nữ (và những ai kính sợ Người) trong khi phần hai (câu 51-55) có một tam đối đầy chuyển động mạnh là Thiên Chúa – những kẻ quyền thế bị hạ xuống – những người bị áp bức được giải thoái. Ý nghĩa sâu xa hơn cần nói đến ở đây là: Maria hiện thân cho vận mệnh của cộng đoàn và diễn tả tiếng nói của cộng đoàn; nơi Mẹ, dân Giao Ước một cách nào đó tập hợp lại trước Thiên Chúa và hướng về ơn cứu độ của Người. Trinh Nữ Nazareth xuất hiện như một cá tính tập thể, cái riêng biểu hiện cái chung; lựa chọn và quyết định của Mẹ liên quan đến toàn thể cộng đoàn mà Mẹ thuộc về.

MANIFICAT - Bài ca của mọi thời đại

3.1.            Bài ca cổ và tân

 Magnificat là bài ca cổ vì có sử dụng chất liệu Cựu Ước. Magnificat là bài ca tân vì thể hiện sự hoàn thành vui mừng của lời Thiên Chúa hứa. Magnificat diễn tả chiều kích cánh chung theo hai góc nhìn sau: trong hy vọng cứu tinh chờ đợi ngày Thiên Chúa viếng thăm dân Người và từ viễn cảnh này – bị từ khước bởi Israel – Tân Ước trình bày những đặc tính của niềm hy vọng từ nay đã hoàn tất. Magnificat còn là bài ca cánh chung khi có ý nói đến biến cố Kitô, một biến cố mặc dù là triệt để trọn vẹn, vẫn chờ đợi một “trời mới – đất mới” đang được phát triển và hoàn tất vào ngày cuối cùng. Nói cách khác, ta đang sống trong cái “đã mà chưa” của ơn cứu độ. Giữa một thế giới còn đổ vỡ vì bạo lực và tội lỗi, bài ca của Đức Trinh Nữ cần được vang lên không ngừng công bố cuộc cách mạng của Thiên Chúa.

3.2.            Bài ca mang tính lịch sử – cứu độ

Magnificat là bài ca phụng vụ hay bài ca giải phóng mang tính chính trị – xã hội? Dưới ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử, hai phương diện này bổ túc và hỗ tương.

Phụng vụ quả thực là việc tưởng nhớ hữu hiệu và cử hành của các biến cố cứu độ, luôn gồm chứa một yếu tố Xuất Hành – Vượt Qua không thể tránh được. Cử hành phụng vụ là dấu chỉ rằng thực sự ơn cứu độ đã hoàn tất (Cf. Xh 3:12) Vì thế, sẽ thật xa lạ với nhãn quan Kinh Thánh khi tách rời yếu tố thờ phượng và hành vi phụng vụ ra khỏi lịch sử mà chúng chỉ về, tưởng nhớ đến. Magnificat tuyên xưng mạnh mẽ Thiên Chúa là Đức Chúa, Đấng Giải Thoát quyền năng, Đấng hạ bệ những kẻ quyền thế kiêu căng và nâng dậy từ bùn đất những người nhỏ bé yếu đuối. Việc chủ đạo cứu độ của Thiên Chúa và điều kiện nghèo hèn (của Maria và Israel) được viết một cách sâu xa và rõ nét trong Magnificat. Đọc Magnificat theo nghĩa xã hội học, chính trị hoặc triết học mà không có yếu tố thần học lịch sử nghiêm túc sẽ dẫn đến khập khiễng. Maria không phải là một anh thư hay siêu nhân mà là một con người đã được giải thoát khỏi phận hèn và đã cộng tác với Thiên Chúa, công bố ơn cứu độ của Người. Để trở thành “những người (cộng tác) cứu độ”, cần phải được cứu độ trước, đã sống màu nhiệm Vượt Qua, đã làm cho Vượt Qua được tưởng nhớ, và đặt mình vào việc phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa.

MANIFICAT - Bài ca của mọi thời đại

 3.3.            Bài ca Giáng Sinh hay Phục Sinh?

 Theo ngữ cảnh viết, một phần của các cuộc truyền tin và một phần của những cuộc sinh ra đã cấu thành một sách gập gồm hai tấm (diptych, dittico). Được đặt lên môi miệng Maria trong bầu khí ấy, bài ca chỉ có thể gợi lên một bầu khí Giáng Sinh. Nhưng khi vừa đi xa hơn cấu trúc viết, ta sẽ nhận thấy có nhiều yếu tố chung với các thánh vịnh và thánh thi giải phóng. Magnificat cử hành biến cố Kitô, được bắt đầu từ cuộc Vượt Qua là biến cố có ý nghĩa cứu độ trải dài đến tận sự hạ sinh là người của Đấng Cứu Thế. Các câu chuyện trong Tin Mừng thơ ấu là các bản văn Vượt Qua phản ánh trên sự sinh ra và thơ ấu của Đức Kitô vinh quang và quyền năng của Đấng Phục Sinh. Các thánh thi của Luca 1-2 được đọc trong cái nhìn như thế.

Có một điều lạ là sau biến cố Truyền Tin về việc làm mẹ khác thường cũng như sau lời ca khen của Elizabeth về hài nhi trong dạ Maria, tên của hài nhi sắp sinh không được nêu ra ngoại trừ những tước hiệu (Messiah, Con Thiên Chúa), kinh nghiệm làm mẹ cũng không được trao đổi. Thay vào đó là các ngôn từ diễn tả sự can thiệp của Đấng Toàn Năng để bảo vệ những kẻ bé mọn được giải phóng khỏi bọn quyền thế. Bởi vậy, Magnificat là một bài ca giải phóng và chiến thắng vì với cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, “thủ lãnh thế gian” bị tống ra ngoài” (Gioan 12: 31) và những người bị giam cầm được giải thoát. Tất nhiên, cho đến ngày cuối cùng, dân Thiên Chúa vẫn còn bị tác động bởi những thách đố từ phía ma quỷ, nhưng ta không thể nghi ngờ chiến thắng của Đức Kitô và cùng với Người Con này là người Mẹ đã cưu mang và sinh hạ; người mẹ này, theo chương 12 của sách Khải Huyền, đại diện cho Hội Thánh và một cách gián tiếp đại diện cho Mẹ Đức Giêsu.

Magnificat hay được đọc dưới ánh sáng của bài ca Anna, mẹ của Samuel (1Sam 2, 1-10)[5]. Sau biến cố Biển Đỏ, chủ đề bài ca Biển Đỏ (Xh 15) cử hành cuộc giải phóng Vượt Qua được tái hiện không ngừng gồm nhiều phần, một phần được quy gán cho Anna. Trong các thánh thi cộng đoàn, có nhiều phụ nữ phi thường đóng vai chính như Maria chị của Mô-sê, Debora và Giuditta. Magnificat cần được đọc trong bầu khí nối kết với các nhân vật anh thư này.

Bài ca chiến thắng của Giuditta – người phụ nữ Giu-đa – làm nên một phần bản văn về cuộc thăm viếng của Mẹ Maria tại nhà Elisabeth. Những lời ca ngợi của Elizabeth đối với Maria dội lại âm hưởng một thời của Giuditta.

Bài ca của Đức Trinh Nữ là tưởng nhớ về những cuộc can thiệp vĩ đại của Thiên Chúa nơi Israel, là cử hành hiện tại của ơn cứu độ đã hoàn tất nơi Đấng Cứu Thế Kitô, là lời ngôn sứ về một tương lai nơi sự toàn thắng của Thiên Chúa sẽ biến đổi mọi sự.

 3.4.            Bài ca mang tính “thần học” và mang tính Maria

 Magnificat là bài ca thần học hay Maria? Một lần nữa, ở đây ta không thể đối lập hai khía cạnh này mà cần công nhận sự hòa điệu và hội tụ.

Bài ca này là của Đức Trinh Nữ vì sự quy gán cho Mẹ ở ngôi thứ nhất và hơn nữa vì đã kể lại câu chuyện của phận hèn tớ nữ Thiên Chúa của Mẹ. Tuy nhiên, là mội bài ca điển hình cho những người nghèo hèn, Magnificat không chỉ thuộc về riêng Đức Maria. Trong Magnificat có sự phản ánh kinh nghiệm nền tảng của dân giao ước và của cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô. Theo nghĩa đó, Maria hầu như tan biến và hòa chung vào dân Thiên Chúa. Trong bài ca này, Mẹ không bao giờ được nêu tên, cũng như tên của Người Con của Mẹ không được đề cập đến. Maria không được trình bày ngay cả bằng đại từ ngôi thứ nhất, bằng “tôi” trực tiếp, mà ẩn giấu đàng sau công thức “linh hồn tôi…thần trí tôi” (c.46b-47).

Magnificat là bản văn nổi bật tính thần học – cứu độ học: trong lời đáp lại những ca ngợi của Elizabeth, Maria ca ngợi Đức Chúa. Theo cách diễn tả của thánh Louis Maria de Montfort, Mẹ xuất hiện như “tiếng vọng của Thiên Chúa… Nếu bạn nói về Maria, Mẹ lặp lại Thiên Chúa.”[6] Ngay từ đầu của Magnificat, Thiên Chúa là đối tượng của lời ca ngợi: tớ nữ khiêm hạ tán dương và hân hoan trong Người, Đấng Cứu Độ của mình. Đây là tựa đề chính và động lực của Magnificat, là điệp khúc có thể được lặp đi lặp lại cho mỗi câu. Lời tuyên xưng sau các hành động và đặc tính của Thiên Chúa nói lên cung điệu của bài ca, đó là: tôn vinh Thiên Chúa và hớn hở trong ơn cứu độ của Người. Magnificat là ca tiếp liên trọng thể, một thánh thi hộ tống bài ca vĩ đại, rộng mở của Biển Đỏ và các thánh vịnh giải phóng làm hiện thực hóa ký ức, tựa như khúc Halleluia lớn của phụng vụ Vượt Qua (Tv 136) và thánh vịnh kết luận của khúc Halleluia nhỏ (Tv 118), được lặp đi lặp lại trong các lễ lớn, đặc biệt là trong tiệc Vượt Qua.

Jean Dupont phát biểu Magnificat như là diễn văn về Thiên Chúa (comme discours sur Dieu): Thiên Chúa mà Magnificat cử hành về sự thánh thiện, lòng nhân từ và toàn năng là Đấng những ai kính sợ Người phục vụ… Thiên Chúa mà Mag cử hành là và mãi mãi là Thiên Chúa của Israel […] nhưng từ ơn cứu độ được ban cho dân Người, Người đã muốn rằng tất cả nhân loại không phân biệt nguồn gốc chủng tộc đều được thông hưởng….Thiên Chúa của Magnificat không xa với thực tại xã hội – chính trị mà ở giữa những người nghèo hèn, thấp cổ bé miệng… Magnificat không đưa ra một định nghĩa nào về Thiên Chúa. Magnificat chỉ nói đến Thiên Chúa trong hành động dưới những phương diện khác nhau của việc can thiệp cứu độ được khởi sự từ biến cố Truyền Tin mà Luca trình bày Maria như nhân chứng đầu tiên…”

 Tóm tắt:

       Bài ca Magnificat thể hiện một cách không trừu tượng những đặc điểm của Thiên Chúa Cựu Ước sẽ được mạc khải tròn đầy như là Cứu Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.

      Magnificat là bản văn thần học nổi bật và cũng là bản văn Maria. Đức Trinh Nữ của Magnificat là địa chỉ đầu tiên của ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô, và bởi đó cũng là chứng nhân đầu tiên, người công bố lòng nhân hậu và sự giải phóng của Thiên Chúa không ngơi. Vì là địa chỉ và nhân chứng đầu tiên của các ân sủng vô tiền khoáng hậu, Mẹ là đối tượng của lời chúc phúc mãi ở trên môi miệng nhiều người – như Elizabeth – đã được giới thiệu vào trong màu nhiệm qua thiên chức là mẹ và qua đức tin của Maria.

Thiên chức làm mẹ của Maria là dấu chỉ can thiệp cánh chung của Thiên Chúa trong thân xác và lịch sử chúng ta. Đức tin của Maria là sự đón nhận mầu nhiệm cách vô điều kiện. Các thế hệ sẽ ca tụng Mẹ diễm phúc về những điều này.

Nguồn: dongcatminh.org

Nếu bạn thấy bài viết này bổ ích chính mình và người khác, hãy chia sẻ cho nhiều người khác nữa nhé! Nguyện xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình!

Ý kiến bạn đọc - Gửi bình luận

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *