fbpx
Trang chủ / Bạn đọc / Gửi bài viết / Sùng Đô ơi thương lắm!
Sùng Đô ơi thương lắm!

Sùng Đô ơi thương lắm!

Giáo họ Sùng Đô thuộc giáo xứ Vĩnh Quang, giáo hạt Nghĩa Lộ, giáo phận Hưng Hóa, nằm trên thôn Ngã Hai, xã Sùng Đô, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Giáo họ nhận thánh Phanxicô Xaviê làm bổn mạng, kính ngày 3 tháng 12. Hiện nay, số giáo dân: 91 hộ với 609 giáo dân (trong đó có 2 hộ người Kinh với 8 nhân danh).

Năm 1968, với 6 hộ dân và 39 giáo dân từ Trạm Tấu đã di cư đến vùng đất Sùng Đô để sinh sống, phát nương, làm rẫy khai phá đất đai. Vốn là những giáo dân tốt lành, giữ được lòng đạo đức nên họ đã tụ họp nhau để cùng đọc kinh, cầu nguyện rất sốt sắng.

Đến năm 1981, cha Phanxicô Trần Ngọc Khiết đã cho thành lập giáo điểm tại nhà ông Giàng Gàng Chư là căn nhà gỗ chồng đất thuộc thôn Ngã Hai, xã Sùng Đô làm nơi tụ họp để cầu nguyện. Số giáo dân của giáo điểm lúc đó là 9 hộ với 80 giáo dân.

Đến năm 1988, khi mà số hộ cũng như số giáo dân càng ngày càng tăng lên, mọi người trong giáo họ đã tự nguyện đóng góp công sức, vật liệu làm một ngôi nhà nguyện bằng gỗ ba gian hai trái, lợp fibrô ximăng trên mảnh đất của một hộ giáo dân là ông Giàng A Lâu trong giáo họ với diện tích sử dụng 120 m2. Thấy được sự phát triển mạnh mẽ, nhu cầu cũng như nguyện vọng của giáo dân trong giáo điểm, ngày 22 tháng 01 năm 1999 cha Giuse Nguyễn Đình Dậu đã công bố thành lập giáo họ Sùng Đô thuộc giáo xứ Phình Hồ và được giáo phận Hưng Hóa xác lập với số giáo dân lúc đó là 29 hộ, 225 giáo dân.

Năm 2004, để thuận lợi cho việc mục vụ cũng như sinh hoạt của các giáo xứ, giáo họ trong giáo phận, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương đã cho tách giáo họ Sùng Đô khỏi giáo xứ Phình Hồ để nhập vào giáo xứ Vĩnh Quang.

Ngày 15 tháng 9 năm 2011, Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn đã chấp nhận đơn xin thành lập giáo họ của cha Phêrô Nguyễn Văn Tuyển và cho phép giáo họ được tự do sinh hoạt tôn giáo tại thôn Ngã Hai, xã Sùng Đô với 60 hộ, 448 giáo dân.

Ngày 21 tháng 11 năm 2013, Đức cha Gioan Maria Vũ Tất, Giám mục Giáo phận Hưng Hóa đã cho phép giáo họ được giữ Mình Thánh Chúa tại nhà thờ của giáo họ để mọi người có thể đọc kinh và Chầu Mình Thánh hàng ngày.

Qua thời gian, ngôi nhà thờ đã dần xuống cấp và không còn đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt mục vụ của giáo họ khi mà số giáo dân mỗi ngày một tăng thêm. Nguyện vọng chính đáng của giáo họ là muốn sửa sang, nâng cấp lại ngôi nhà thờ để cho ngôi nhà thờ được trở nên xứng đáng làm nơi thờ phượng Chúa và cũng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của giáo họ. Được sự nhất trí và hướng dẫn của qúi Đức Cha và Cha quản nhiệm Giuse Nguyễn Trọng Dưỡng cũng như sự cho phép của các cấp chính quyền huyện Văn Chấn, xã Sùng Đô, giáo họ đã chuẩn bị cho công việc sửa sang lại ngôi nhà thờ. Và ngày 15 tháng 4 năm 2015, giáo dân trong giáo họ đã cùng nhau đồng tâm nhất trí, góp của góp công, kiếm gỗ tiến hành tháo dỡ, thay thế một số vật liệu và nối dài thêm một gian sửa hai trái. Sau khoảng hơn hai tháng, ngôi nhà thờ đã được sửa sang lại khang trang sạch sẽ, đẹp đẽ, rộng rãi hơn và hy vọng niềm vui của giáo họ trở nên trọn vẹn. Đức Cha phụ tá Anphong Nguyễn Hữu Long đã làm phép và khánh thành ngôi nhà thờ của giáo họ vào ngày 22 tháng 9 năm 2015.

Ước mơ giản dị đó đã được hiện thực hóa nhờ vào sự quan tâm của các vị chủ chăn cùng những hy sinh và sự đồng tâm hiệp lực của mọi người trong gia đình giáo họ Sùng Đô. Ngôi nhà thờ là ngôi nhà chung, là trái tim của giáo họ. Nơi đây, mọi thành phần dân Chúa được cất cao tiếng chúc tụng Thiên Chúa, Đấng luôn tuôn đổ xuống trên từng người muôn phúc lộc. Đặc biệt nơi đây, diễn ra những cử hành phụng vụ, nhất là phụng vụ Thánh Thể để nuôi dưỡng đời sống đức tin của cộng đoàn dân Chúa.

Có thể nói, ngôi nhà thờ đã gắn bó với tuổi thơ của mỗi người tín hữu nơi đây. Nó là trung tâm văn hóa của cả giáo họ, ghi những dấu ấn không thể xóa nhòa từ nam phụ, lão ấu. Thân thương là thế, gần gũi như vậy, nhưng vào tháng 7 vừa qua, những thiệt hại và sự tàn phá khốc liệt của cơn bão số 3 tại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, đặc biệt vào ngày 20 tháng 7 năm 2018, xã Sùng Đô đã bị thiệt hại nặng nề do mưa lũ và sạt lở đất. Giáo họ Sùng Đô do sạt lở đất đã làm hư hoại hầu như hoàn toàn ngôi nhà thờ, không thể khôi phục được. Cùng với đó, các hộ trong toàn xã nói chung và các hộ giáo dân nói riêng đều bị thiệt hại nặng nề do cơn bão này. Có khoảng trên 20 hộ mất nhà, mất ruộng rẫy…

Tôi nghe được hung tin khi đang giúp mục vụ hè tại một giáo xứ miền xuôi. Những giáo dân cũ nhắn tin: “Thầy ơi! Giáo họ Sùng Đô sập hết nhà thờ rồi”. Tôi như muôn khụy chân xuống đất bởi đã từng gắn bó với gia đình giáo xứ Vĩnh Quang trong đó có anh em Sùng Đô trong một năm. Vĩnh Quang và đặc biệt anh em Người H’moob luôn ở trong trái tim của tôi. Tôi luôn nói với họ: “Kuv hlub Cov leej H’moob nyob Sùng Đô heev os. Sawv daws nyob hauv kuv siab” (Thầy yêu anh em người H’moob ở Sùng Đô rất nhiều. Mọi người ở trong trái tim thầy). Khi nghe được tin dữ này, không ai là không cảm thấy đau lòng và hụt hẫng, nhất là những ai đã từng gắn bó với họ. Tôi đã tự nhủ lòng sẽ lên thăm họ sớm hết sức bởi tôi không thể đi ngay lập tức, vì nhiệm vụ trước mắt vẫn phải chu toàn. Nhưng chẳng nhẽ lại lên với bàn tay trắng, tất nhiên sự hiện diện cũng có giá trị rất lớn.

Nhờ ơn Chúa soi sáng, tôi lên mạng và nhắn tin cho bạn bè, người thân nhờ họ rộng tay thương đến những ngươi anh em đang đau khổ tại Sùng Đô. Tạ ơn Chúa, với sự quảng đại của quý ân nhân, tôi đã nhận trực tiếp hoặc qua người này người kia gửi, tổng số tiền nhận được là 17 triệu đồng. Ngay sau khi hoàn thành hai tháng sứ vụ chia tay anh em miền xuôi ngày 9 tháng 8 về gặp bề trên giáo phận cùng với anh em chủng sinh ngày 10 tháng 8  và trở về gia đình ngày hôm sau, thì ngày 12 tháng 8 vừa qua, tôi cùng với hai người em ruột đã tới thăm Sùng Đô. Đường đi quả thật vất vả sau những gì cơn bão để lại.

Hồng ân Chúa thật là như mưa như mưa, anh em chúng tôi đi gần tới nơi chỉ cách khoảng 4 km thì gặp một trận mưa to khủng khiếp, đường thì trơn, nước chảy ồ ạt. Mấy anh em phải vật lộn mãi mới lên được tới nơi. Đi đường, tôi phải thầm thĩ cầu nguyện cho anh em đi đường được bình an không bị lũ quét, không bị đất đá sạt lở. Chúng tôi đặt chân tới nhà anh Vàng là 15g45 phút trong khi trời vẫn mưa to. Tôi thấy mọi người vẫn tập trung rất đông, hỏi ra mới biết hồi sáng có cha xứ, quý cha và quý khách tới thăm. Họ nhìn thấy tôi mà ai nấy đều hô rất to: “Ơ thầy tới à”. Một niềm vui và một sự ngạc nhiên hết sức thể hiện trên khuôn mặt từng người. Tôi đã xa họ, xa giáo xứ tới gần 3 năm nhưng họ vẫn dành cho tôi một cách xưng hô thật thân thương và thật hạnh phúc: Thầy xứ. Anh Súa là trưởng ban hành giáo và các anh em trong ban hành giáo cũng như ca đoàn nói với tôi là: “Sao thầy lên mà không điện thoại cho chúng con xuống đón, vì đường khó đi quá. Tội này to lắm tí nữa xưng tội nhé”. Tôi không hiểu gì chỉ ừ ừ rồi đi hỏi thăm mọi người, mãi sau mới hiểu ra là tới tối phải uống một chén để nhận lỗi vì lên mà không báo cho anh em biết. hì hì. Thật là vui nhưng cũng rất cảm động. Sau đó tôi mời mọi người sang nhà một người anh em đối diện đã hy sinh nhà ở của mình để cho giáo họ mượn làm nhà nguyện tạm, nơi đọc kinh và dâng lễ khi có các cha tới thăm cộng đoàn.

Tôi xin anh chị em đọc kinh Chúa Thánh Thần, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Tin Kính và hát một bài để cầu nguyện cho giáo họ sớm có ngôi nhà nguyện và mọi người sớm khắc phục được hậu quả sau cơm bão để ổn định cuộc sống, đồng thời cầu xin Chúa trả công bội hậu cho những ân nhân xa gần đã nhớ tới và giúp đỡ Sùng Đô đặc biệt những người đã gửi gắm qua tôi mang đến cho họ hôm nay. Anh chị em cất lên lời kinh với trọn niềm phó thác bằng chính thổ âm của mình là tiếng H’moob thật cảm động biết bao. Đỉnh điển của tâm tình của những người con dâng lên Chúa là bài hát: Tswv Ntuj Hlub Kuv Loj Tshaj: Bao la tình Chúa yêu con. Tôi cảm động rươm rướm nước mắt bởi nghĩ tới những khó khăn mà những người con của Chúa nơi miền sơn cước này đã, đang và sẽ phải gánh chịu. Tôi nghe thấy những tiếng sụt sịt ngày càng lớn dần bên tai. Họ đã khóc và khóc rất lớn. Mấy chục người hiện diện hầu như đều rơi lệ và có những anh chị em đã đến ôm lấy tôi vừa khóc vừa nói rằng: “Thầy ơi chúng con mất hết rồi!”. Ông trùm cũng khóc, các ông các anh cũng khóc mặc dù họ là những người không bao giờ rơi lệ dù cuộc đời có khó khăn đến mấy. Thế nhưng, khi họ mất đi ngôi Thánh Đường đã gắn bó với tuổi thơ và cả cuộc đời của họ thì họ không thể ngăn dòng lệ từ sâu trong trái tim tuôn chảy. Anh Vàng ôm tôi khóc và nói: “Thầy ơi chúng con khổ quá. Chúng con mất hết rồi. Từ khi con biết đi thả trâu, bố con đã bảo mình đi kéo gỗ để góp vào làm nhà cho Chúa. Biết bao nhiêu năm mới có ngôi nhà thờ mà nay chỉ sau vài phút sạt lở đất chúng con chẳng còn gì”. Tôi đã không thể ngăn được dòng lệ chỉ chực tràn mi và giờ nó đã tuôn ra không thể kìm nén. Tôi đã phải quát to với anh chị em: “thôi đừng khóc nữa” nhưng kì thực tôi biết họ rất đau khổ. Tôi chỉ biết ôm chặt mỗi người một cái hoặc một cái bắt tay thật chặt để phần nào đó an ủi họ.

Sau đó, tôi chuyển số tiền mọi người gửi cho anh trưởng ban hành giáo và các thành viên khác trong ban hành giáo. Số tiền 17 triệu được chia ra hai phần: 7 triệu góp vào để sửa lại nhà thờ, 10 triệu để các ông trong ban mua những yếu phẩm cần thiết để cung ứng ngay cho bà con. Kế đến, tôi lên thăm ngôi nhà nguyện thân yêu. Cảnh tượng thật hoang tàn đổ nát, 2/3 ngôi nhà nguyện bị hư hỏng hoàn toàn, phần còn lại cũng siêu vẹo chực đổ. Tôi thầm nghĩ: “Sùng Đô ơi, nay đâu rồi?”. Nơi đây, xưa xinh đẹp là thế, mà nay tôi thấy ngổn ngang đất đá, gỗ bị bật tung. Xa xa nơi góc nhà bếp, tôi nhìn thấy những mảnh vỡ của tượng Đức Mẹ Ban Ơn và Thánh Giuse bị cụt đầu. Quá đau xót phải không ạ! Anh em trong giáo họ đi cùng chúng tôi nói rằng cha xứ nói: “Chúa đã chết thay cho chúng con”.

Thật đúng như vậy, giáo họ không ai bị thiệt mạng, tuy rằng trong địa bàn xã có một em người lương dân 16 tuổi thiệt mạng do nhà sập. Tôi còn đi thăm hỏi hầu hết các gia đình gần khu vực nhà thờ sau đó về ăn tối. Đang khi ăn tối, chị ca trưởng đoàn nói: “Thầy ơi, tí nữa thầy chia sẻ lời Chúa nhé”. Tôi bảo: “Thầy không mang áo dòng và chiều nay anh chị em có lễ rồi mà. Thôi thì lát cuối giờ kinh thầy chia sẻ một tí”. Và giờ kinh đã diễn ra với hơn 200 người hiện diện. Mọi người người ngồi chặt kín ngôi nhà nguyện tạm và phải ngồi cả ngoài hiên nhà nữa. Đến lượt tôi, sau khi mọi người đọc bài Tin Mừng của ngày thứ 2 sau Chúa Nhật 19 thường niên, có phần nói về việc Chúa Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn của Người. Tôi chào anh chị em với một tâm tình chia sẻ và cảm thông. Tôi động viên anh chị em hãy vững tin vào Chúa bởi anh chị em đã và đang kết hợp với Chúa Giêsu tử nạn và chắc chắn Chúa sẽ phục sinh anh chị em. Tôi xin anh chị em hãy dùng chính hoàn cảnh hiện tại để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa qua việc anh chị em yêu thương chia sẻ cho nhau, mặc dù anh chị em đang rất khó khăn. Bởi chính Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Anh em hãy yêu thương chia sẻ cho nhau, đừng ích kỉ chỉ biết có mình mà ngoảnh mặt trước sự khó khăn của người khác. Mọi người ở khắp nơi biết tới anh chị em và họ cũng là những người nghèo nhưng vì tình yêu đối với Thiên Chúa mà họ đã sẵn sàng chia sẻ cho anh chị em. Nếu như anh em ở đây không biết yêu thương chia sẻ cho nhau, gây chia rẽ trong cộng đoàn thì còn ai muốn chia sẻ cho anh em nữa.

Bởi vậy, anh em hãy yêu thương nhau hơn và đoàn kết với nhau hơn để qua đó anh chị em làm chứng cho Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương anh chị em. Phần thầy, anh chị em luôn luôn ở trong trái tim của thầy. Xin anh chị em cầu nguyện cho thầy thật nhiều để nếu Chúa muốn thì có thể được làm cha xứ của người H’moob. Mọi người vỗ tay thật to. Sau giờ kinh, tôi mời mọi người ngồi và mang phần quà đã chuẩn bị ra chia sẻ cho mọi người từ trẻ em tới người lớn tuổi. Mọi người vừa ăn vừa cười nói rất vui vẻ trông thật hạnh phúc. Trong khi ăn bánh và kẹo, anh chị em nơi đây có dành tặng tôi những bài hát thánh ca bằng tiếng H’moob, cảm động nhất là họ tặng tôi bài hát: “Thầy xứ đẹp như hoa mai rừng”, mượn lời từ bài hát: “Cô giáo về bản”. Tôi cũng hát tặng họ bài “Bao la tình Chúa” bằng tiếng H’moob để đáp lại tình cảm của họ. Buổi tối hôm đó thời gian trôi thật nhanh, 10 giờ đêm đã điểm, tôi phải hối thúc mọi người về kẻo khuya quá ảnh hưởng tới công việc ngày hôm sau.

Đêm hôm đó, tôi ngủ thật ngon nơi gia đình anh Vàng. Sáng hôm sau, tôi ăn sáng với anh em ban hành giáo (mì gói) rồi đi thăm mấy gia đình còn lại. 8 giờ 30 phút tôi cùng mấy anh chị em đọc kinh dâng giáo họ Sùng Đô cho Chúa và cầu nguyện để anh em tôi về nhà được bình an. Sau đó, anh em tôi xuống núi. Đường đi cũng khó khăn không kém lúc lên núi, đường trơn trượt hơn khi lên rất nhiều, đã nhiều lần xuýt ngã nhưng có Chúa đồng hành và Đức Mẹ chuyển cầu (Tôi lên đó xin anh em trong giáo họ được đầu của tượng Đức Mẹ Ban Ơn về là kỉ niệm và để nhớ tới anh chị em Sùng Đô) nên chuyến đi hết sức bình an. Anh em tôi về tới nhà lúc 18g45 ngày 13 tháng 8 năm 2018. Kết thúc chuyến đi bình an.

Tạ ơn Chúa về muôn hồng ân Chúa đã thương ban cho tôi và những người thân thuộc, đặc biệt anh em giáo họ Sùng Đô. Xin thay lời cho anh em người H’moob cám ơn tất cả anh chị em xa gần đã yêu thương cầu nguyện và giúp đỡ những anh chị em khốn khó nơi miền xa này. Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ phúc lành và trả công bội hậu cho những người đã yêu mến và giúp đỡ người H’moob.

Leej hlub leej H’moob

Nếu bạn thấy bài viết này bổ ích chính mình và người khác, hãy chia sẻ cho nhiều người khác nữa nhé! Nguyện xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình!

Ý kiến bạn đọc - Gửi bình luận

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *